Nguyễn Quang Huy1, Như Văn Cẩn1, Đỗ Văn Minh1,
Peter Lauesen2, Phạm Lam Hồng1, Bùi Văn Hùng1,
Nguyễn Thị Lệ Thủy, Trần Mai Thiên
Viện nghiên cứu và nuôi trồng Thủy sản 1
2SINTEF Fishery and Aquaculturre, Norway
Cá giò (Rachycentron canadum) là loài cá nổi có tập tính di cư. Cá phân bố rộng, từ vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới đến các vùng nước ấm của biển ôn đới. Vùng sinh thái sống của cá tương đối đa dạng: ở ven biển, các rạng san hô đến vùng biển khơi (Shaffer, 1989).
Đối với nghề nuôi biển, cá giò là đối tượng nuôi tương đối mới nhưng có nhiều ưu điểm quan trọng để phát triển thành đối tượng nuôi biển công nghiệp có giá trị thương phẩm cao, tương tự như cá hồi của châu Âu. Cá sinh trưởng nhanh, từ cỡ cá giống 30g (70-75 ngày) có thể đạt 6-8 kg sau 1 năm nuôi (Su và ctv., 2000). Hệ số thức ăn của cá khi sử dụng cá tạp dao động từ 8-10 (Huy, 2002), khi sử dụng thức ăn công nghiệp đạt từ 1,02 - 1,8 tuỳ theo cỡ cá (Su và ctv,2000). Ngoài ra, so với một số loài cá nuôi khác, cá giò có khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường tốt, có tiềm năng phát triển nuôi xa bờ, ở những vùng biển hở, Thịt cá giò trắng, ngon và bổ dưỡng. Hàm lượng acid béo không no EPA và DHA cao hơn so với nhiều đối tượng nuôi khác (Shiau, 1990, theo Su và ctv., 2000).
Bạn phải là thành viên mới download được file |